1:53 chiều | 13 Tháng Tư, 2016

Câu chuyện của một người lính Nhật- tâm hồn samurai

Ngoài khí phách và ý chí của những samurai Nhật sau thế chiến thứ hai, ở những con người này còn có một thế giới nữa, đó là thế giới tâm hồn. Câu chuyện ngắn sau đây sẽ kể với bạn đọc về thế giới tâm hồn đó.
Simidzu trong quân phục trung sỹ . Ảnh từ album gia đình Emilia.Ermakova

Những người tù binh Nhật đầu tiên được đưa đến Tambov (trên phần lãnh thổ Châu Âu của Liên Xô, cách Matxcova 480km về phía đông nam) vào mùa xuân năm 1946.
Họ cho rằng mình đã gặp may: khác với Sibiri lạnh giá, khu vực này có khí hậu ấm áp hơn và họ có thể sống sót.
Những người Nhật Bản không phải là những tù binh nước ngoài duy nhất làm việc ở đây: tại các mỏ than bùn có rất nhiều người Đức, người Pháp, người Hungary tay xẻng tay cuốc làm việc.. . nhưng thái độ của dân chúng ở đây đối với những công dân đất nước Mặt trời mọc có một cái gì đó rất đặc biệt.
Dân địa phương chờ đoàn tàu chở các samurai tại sân ga đến suốt hai ngày đêm liền. Các tù binh vừa mới xuống tàu thì đám đông bắt đầu náo động. Một số người đổi thức ăn cho họ lấy một số món đồ gì đó, người khác thì cướp thẳng tay đồ của tù binh Nhật.
Ba lô của người Nhật chật cứng những vật báu: từ các bức tranh đến máy ảnh và các cuộn phim! Không một ai trong số các samurai tự mổ bụng tại Tambov, mặc dù những người được đưa tới đây là tinh hoa của Đội quân Quan Đông (cụm quân mạnh nhất của Các lực lượng vũ trang Nhật Bản tring thế chiến thứ hai) – cả các sỹ quan và tướng lĩnh.
Nghiêm !
Sự nhún nhường, chấp nhận số phận một cách điềm tĩnh, lòng tốt đã được đền đáp. Người Nhật là những người duy nhất không bị áp giải đến nơi làm việc. Họ được phép mặc quân phục, và trong khẩu phần ăn được tăng thêm cơm vì tôn trọng truyền thống nông nghiệp của người Nhật.
Chính vì thế mà không có gì đáng ngạc nhiên khi tại một trong những sân vườn của thành phố Tambov, trong giờ nghỉ ăn trưa, một số tù bình Nhật có thể nằm nghỉ ngơi một chút trên bãi cỏ. Sau đó lại tiếp tục đi đào các đường hầm dưới các tuyến giao thông của thành phố.
Trong khu sân vườn này có 4 cô bé mười tuổi hàng ngày chơi ở đó. Người Nhật trở thành mục tiêu quan sát chăm chú của những cô bé này. Sợ hay là không? Có nên bắt chuyện với họ không? Sự tò mò đã thắng khi những người tù binh bắt đầu hát khe khẽ những bài hát Nhật. Các cô bé bắt đầu tiến lại gần và chăm chú lắng nghe. Và sau đấy họ hát bài “ Cachiusa” để đáp lễ.
Các samurai vỗ tay hoan hô, gật đầu theo nhịp hát. Bốn cô bé này không thấy có gì đáng sợ ở những người tù binh Nhật và hàng ngày chờ những người Nhật mới đến để làm quen. Các samurai dạy họ những trò chơi trẻ em. Làm ảo thuật cho các cô bé xem, vẽ những con vật trên cát bằng những chiếc que gỗ.
Người lớn tuổi nhất trong số các samurai là Dzituichi Simidzu, lúc đó 25 tuổi.
Không được lên án những người lính
Emilia khi 10 tuổi . Ảnh từ Album gia đình E.Ermakova
Cha mẹ các cô bé cho phép họ mang đồ ăn đến cho những người tù binh Nhật. Cha của Emilia Ermakova, một người lính đã từng trải qua nhiều cuộc chiến tranh – bắt đầu từ cuộc nội chiến, nói với các cô bé: không được lên án những người lính, họ phải chấp hành mệnh mệnh và không có bất kỳ ai hỏi họ là có muốn đánh nhau hay không.
Thực ra những món đồ ăn mời các samurai cũng rất khiêm tốn, bởi vì vào thời kỳ khó khăn đó mọi thứ thức ăn đều phải mua theo tem phiếu tại cửa hàng. Các cô bé mang đến có khi chỉ là vài củ khoai tây luộc giấu trong áo choàng, muối, có một lần mẹ cho gửi cho mấy con cá ngâm giấm. Những người Nhật này rất thích thú học tiếng Nga và chỉ sau vài ba tuần các bên đã có thể tàm tạm hiểu nhau.
Nhưng đến đấy thì mọi việc cũng kết thúc. Các tuyến đường giao thông trong đường phố đã được xây dựng xong, những tù binh Nhật lại được điều đi công trình khác. Khi chia tay, Simidzu tặng các cô bé tất cả những gì mình có: chiếc khăn tay vải batit thêu, tấm ảnh anh tự ký bằng tiếng Nga .

Mật ong rừng

Chiếc khăn tay được cắt làm tư chia cho bốn cô, còn bức ảnh được quyết định giao cho Emilia vì tên cô đứng đầu trong những người được đề tặng.

Emilia kể lại: “đã 69 năm trôi qua, tôi và các bạn gái đó đã bị lạc nhau, lớn lên và già đi, nhưng bức ảnh đó luôn luôn đi cùng tôi. Tôi đã nhiều lần chuyển nhà, thất lạc nhiều đồ đạc, nhưng bức ảnh này bằng một cách huyền bì nào đó không thể nào hiểu nổi luôn xuất hiện trước mắt tôi trước mỗi lần di chuyển như nhắc nhở về một tình bạn vô tư trong sáng”.

Emilia Ermakova đã nhiều lần tìm cách tìm lại người tù binh Nhật đó nhưng không thành. Hồ sơ về những người tù bình được giữ bí mật. Nhưng mấy năm trước đây, Hội hữu nghị Nhật- Nga được thành lập tại thành phố Tambov, những nhân viên của Hội đã tìm hiểu và biết được phần tiếp theo của câu chuyện này.

Dzituichi Simidzu sau một năm nữa thì trở về Nhật Bản, về thành phố Kobe, nơi mà cha mẹ và 6 người em trai gái chờ anh. Cưới vợ và năm 1949 thì có con trai. Ông mất năm 91 tuổi,- hai năm trước khi nhân viên Đại sứ quán tìm được gia đình ông theo đề nghị từ Nga.

Ông đã trở thành một nhà kinh tế hàng đầu của Nhật Bản. Đã viết sách về cuộc đời mình, về những năm tháng làm tù bình, về lòng tốt của những người Nga. Trong mỗi một dòng chữ – tình yêu và sự biết ơn vì họ đã giúp ông sống sót.

Con trai ông là Mitio – sỹ quan cảnh sát, cũng chịu ảnh hưởng từ tình yêu nước Nga của cha. Tin tức từ Tambov đến đã làm xáo động cả gia đình lớn của Simidzu.

Và người con trai cả đứng đầu gia đình Mitio đã bay đến Nga. Trưởng nam của vị samuri ngày nào đã không giấu được nước mắt khi nói rằng nếu như những người Nga không giúp cha ông sống sót tại đây, thì đã không có ông và đại gia đình ông như hiện nay.

Món quà Mitio mang tặng Emilia là quyển sách của cha và một chiếc kính thần kỳ – sản phẩm mới nhất của công nghệ Nhật: bất kỳ ai khi đeo chiếc kính này sẽ đưa độ cận sẽ trở về mức bình thường. Người Nhật này cũng được tặng quà đáp lễ: các con Matreshka, khăn san, 5 cân mật ong rừng .

– Emilia cười và kể lại: Trong thư trả lời sau khi về nước, cái mà những người Nhật nhắc tới và cảm ơn nhiều nhất là mật ong rừng. Chúng tôi rút ra kết luận là mật ong của họ hơi ít. Mitio cũng đã gửi những tờ báo có đăng các bài báo của mình về nước Nga.

Tôi hiểu rằng, tôi cùng các bạn gái không làm được một điều gì to tát trong cái năm 1946 xa xôi ấy. Nhưng những tình cảm đó làm cho con người hiểu nhau nhiều hơn những gì mà các chính khách đã làm. Có phải như vậy không?

Theo lichsu.vn
Kusa
Có thể bạn quan tâm
(Visited 129 times, 1 visits today)